Nhà khoa học Tim Berners-Lee đã phát triển web tại phòng thí nghiệm Cern gần Geneva (Thụy Sỹ). Nhưng ít ai biết rằng công nghệ www (world wide web) đã phải chật vật như thế nào để thu hút sự quan tâm của giới chuyên môn và người sử dụng.
6/8/1991 là một ngày đáng nhớ bởi đó là thời điểm mã máy tính "non nớt" cho www được đăng trên alt.hypertext để mọi người có thể tải và tìm hiểu nó. Cũng bắt đầu từ hôm ấy công nghệ web được thế giới biết đến.
Jeff Groff, người cùng tham gia viết mã với Berners-Lee, cho biết ý tưởng tạo dựng web thực ra được hình thành rất đơn giản: "Chúng tôi luôn nghĩ rằng người sử dụng không cần phải xoay sở với những vấn đề kỹ thuật phức tạp". Web giống như một tấm khăn trải giường với nhiệm vụ cố che phủ sự rắc rối của những dữ liệu được lưu hành trên Internet.
Paul Kunz, nhà khoa học đã thiết lập máy chủ web đầu tiên ở châu Âu vào tháng 12/1991, cho biết đầu thập niên 90, máy tính giống như những "ốc đảo" thông tin. Một lần đăng nhập chỉ có thể truy cập tài nguyên của một hệ thống. Chuyển sang máy tính khác đồng nghĩa với việc họ phải đăng nhập thêm lần nữa và phải sử dụng những bộ lệnh khác nhau để truy xuất dữ liệu.
Web đã lôi kéo sự chú ý của Kunz khi ông chứng kiến Berners-Lee trình diễn khả năng hoạt động của web trên hệ thống IBM. Sau đó, Kunz đã thiết lập máy chủ web, cho phép các chuyên gia vật lý rà soát hơn 200.000 dữ liệu dễ dàng hơn bao giờ hết.
Từ con số không thành gã khổng lồ
Tuy nhiên, dù các nhà vật lý đã bị web quyến rũ, đa số mọi người lại không nhận biết được khả năng tiềm ẩm của nó. Kunz cho rằng điều này là do nhiều tổ chức cũng đang thực hiện ý tưởng tương tự. Công nghệ nổi tiếng nhất khi đó là Gopher của Đại học Minnesota (Mỹ), cũng với tham vọng hóa giải sự phức tạp của những máy tính kết nối Internet. Gopher được ra mắt vào mùa xuân năm 1991 và lưu thông Gopher cao hơn hẳn so với lưu thông web trong vài năm tiếp theo.
Sự phát triển của công nghệ web so với Gopher. Nguồn: MIT
Trong thời gian đó, Berners-Lee, Jeff Groff và đồng nghiệp cũng tích cực giới thiệu phát minh của họ tại các hội thảo, cuộc gặp gỡ...
Dự án www chỉ thực sự thăng hoa khi chuyên gia Marc Andreessen thuộc Đại học Illinois (Mỹ) giới thiệu trình duyệt web máy tính đầu tiên vào tháng 4/1993. Trình duyệt Mosaic đã quá thành công và một số tính năng vẫn được coi là quy ước trong công nghệ web ngày nay. Cũng vào năm 1993, Đại học Minnesota thu phí Gopher khiến người ta bắt đầu phải tìm đến các giải pháp thay thế.
Ngoài ra, theo Ed Vielmetti, nhà nghiên cứu thuộc Đại học Michigan, ngay từ những năm đầu, web đã chứng minh được tính hữu ích với người sử dụng thông thường. Mọi người có thể sử dụng các trang web để tự bộc lộ mình, điều mà những công nghệ khác không cho phép (hình thức mới hiện nay của nó chính là blog).
Cuối năm 1994, lưu thông web rốt cuộc cũng vượt qua Gopher và từ đó chưa bao giờ bị tụt lại. Hiện nay, gần 100 triệu website đã xuất hiện và người ta gần như đồng nhất công nghệ web với Net.
Kunz cho biết ý tưởng hình thành www là để tạo điều kiện cho mọi người vừa đọc vừa đóng góp nội dung. Những công cụ mới như site chia sẻ ảnh, mạng xã hội, blog, các trang wiki... đang dần hoàn thành lời hứa ban đầu của nhóm chuyên gia phát triển web.
Và như thế, theo Kunz, web bây giờ mới chỉ bắt đầu những bước đi đầu tiên.
T.N. (theo BBC)
TK:vnexpress.net
Thứ Năm, 26 tháng 6, 2008
Làn sóng các công nghệ Web mới!
Các trang Web văn bản đơn giản có thể đủ đáp ứng nhu cầu hiện tại, nhưng rồi sắp tới sẽ không đủ sức hấp dẫn khách thăm quay trở lại site của bạn. Dưới đây là những công nghệ mà Webmaster (nhà tạo Web) có thể sử dụng để tăng cường tính sôi động và multimedia cho Web site.
Internet đã trải qua bước phát triển dài kể từ khi Tim Berners-Lee ở phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân châu Ấu (CERN) đưa ra khái niệm HTML (HyperText Markup Language), và 2 sinh viên của trung tâm NCSA (National Center for Supercomputing Applications) thuộc đại học Illinois, viết những dòng mã của phần mềm Mosaic, trình duyệt Web đầu tiên dựa trên ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản. Thời đó, Internet chủ yếu là môi trường văn bản của các kỹ thuật viên và những người hâm mộ giao diện dòng lệnh. Mosaic khởi đầu cho sự phát triển của World Wide Web, bộ phận đồ họa của Internet, và phần còn lại do lịch sử định đoạt. Hai sinh viên đồng tác giả Mosaic là Marc Andreessen và Eric Bina, hiện cùng làm việc cho Netscape, công ty đứng sau trình duyệt Web đang phổ biến nhất.
Bản thân Web cũng thay đổi nhiều. Nó không còn chỉ là tập hợp các hình ảnh tĩnh, những siêu liên kết đơn giản, mà giờ đây nội dung thực sự sinh động với hoạt họa và audio/video tương tác, dùng làm nền tảng để phân phối phần mềm và những công nghệ "siêu đẳng" khác mà HTML nguyên thủy chưa thể hình dung được. Phiên bản mới nhất hiện nay của HTML là 4.0, cơ hội sáng tạo chưa từng có cho các thợ thiết kế Web. Doanh nghiệp nào không biết tận dụng công nghệ mới để xây dựng các Web site hấp dẫn, trước sau rồi cũng sẽ mất dần khách đến thăm.
Ngôn ngữ HTML 4.0 có nhiều điểm mới, ngoài ra Netscape Navigator và Microsoft Internet Explorer còn hỗ trợ nhiều loại thẻ HTML chuyên dụng. Các site có thể nâng cấp nhờ công nghệ plug-in của trình duyệt Web như Shockwave hoặc các phần mềm RealAudio và RealVideo, chúng chỉ gọi Web browser mỗi khi người sử dụng nhấn vào một siêu liên kết. Hiện nay đang phổ biến việc dùng ngữ trình Java để nâng cấp Web site. Các trình con Java (Java applets) rất mạnh và mềm dẻo, dùng để thiết kế các thực đơn tương tác, các nút động và thêm âm thanh cũng như hoạt hình vào trang Web. Người dùng chỉ cần được trang bị trình duyệt có tính năng Java. Ngôn ngữ HTML có thẻ <embed> cùng với các tham số cần thiết để nhúng trình con Java vào trang Web. Tại các địa chỉ http://www.gamelan.com của Gamelan và http://www.jars.com của Java Applet Rating Service, có danh sách các applet thương mại và miễn phí bạn có thể tải xuống và sử dụng.
Một xu hướng mới chủ yếu khác là tăng cường khả năng trao đổi thông tin giữa các khách hàng của Web site. Chuyện phiếm (chat) trên mạng không còn thuần túy là tiêu khiển nữa, mà thực sự là phương tiện làm ăn của người sử dụng. Web site nào hỗ trợ chat room, site đó sẽ có nhiều khách hàng hơn. Chat room còn được sử dụng để hỗ trợ kỹ thuật cho người tiêu dùng. Công ty iChat (địa chỉ http://www.ichat.com) vừa đưa ra giải pháp Client/Server mạnh cho chat trên Internet/intranet. Tuy nhiên, chat vẫn ở những bước phát triển còn non nớt, đang có những ý định chuẩn hóa trong lĩnh vực này.
Công nghệ Web phát triển rất nhanh chóng. Nếu cứ cố bám lấy các thẻ HTML lỗi thời thì chỉ làm cho Web site của mình kém hấp dẫn và không còn hiệu quả ngay trong tương lai không xa. Chúng ta hãy cùng xem xét những công nghệ mới đó.
HTML
HTML 4.0 là phiên bản mới nhất của ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản. Đây là kết quả trao đổi và bàn luận giữa các thành viên của HTML Working Group thuộc W3C (World Wide Web Consortium) với sự hợp tác của những công ty có thế lực ảnh hưởng tới tương lai HTML - đó là Adobe Systems, Hewlett-Packard, IBM, Microsoft, Netscape, Novell, SoftQuad, Spyglass và Sun Microsystems.
HTML 4.0 hỗ trợ nhiều thành phần multimedia hơn so với phiên bản 3.2, có các thẻ (tag) giúp in trang Web tốt hơn, những đặc tính mới làm cho trang Web dễ truy cập hơn đối với những người có khả năng hạn chế; ngoài ra dựng trang Web đa ngữ dễ dàng hơn nhiều so với trước. Với HTML 4.0, các tư liệu viết trên ngôn ngữ riêng được hiển thị với đầy đủ kiểu thức đặc thù. Một tư liệu Web bây giờ có thể hỗ trợ nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Mẫu biểu (form) trong HTML 4.0 cũng cao cấp hơn: có thể hiển thị HTML (trang Web) trong nút lệnh bất kỳ, tạo được các điều khiển với thuộc tính read-only, có thêm đối tượng nhãn (label) và các phím tắt (keyboard shortcut) gắn với điều khiển.
Khung (frame) cũng được cải tiến: ngoài khung cố định có tác dụng chia cửa sổ Web thành nhiều cửa sổ nhỏ, còn có thêm khái niệm khung in-line (khung trong tư liệu), tức khung xen kẽ động với dữ liệu (thực ra Internet Explorer đã hỗ trợ kiểu khung này bằng thẻ từ phiên bản 3.0 - ND).
Với bảng (table), các cột có thể nhóm lại với nhau để dễ đặc tả khi chúng có cùng một tính chất, kiểm soát viền (border) cũng tốt hơn. Đặc biệt, người thiết kế Web có thể đặc tả số cột và bề rộng từng cột ngay trong thẻ để khi gặp một bảng lớn (có nhiều hàng/cột) có thể nhanh chóng hiện ngay từng bước phần đầu của bảng mà không cần phải chờ đọc hết thông tin về nội dung bảng (thường hiện nay phải đọc đến tận thẻ
mới xác định được dáng vẻ của toàn bảng - ND). Còn có nhiều đặc tính khác để xử lý bảng hiệu quả và linh hoạt hơn. HTML 4.0 còn cho phép sử dụng nhiều ký hiệu quan trọng trong toán học, đánh dấu, và các ký hiệu quốc tế.
Dynamic HTML
HTML động (DHTML) là phương tiện có nhiều hứa hẹn cho các Web site, tuy nhiên nhiều người còn chưa biết chính xác nó là gì. Đó là do Dynamic HTML có thể được hiểu khác nhau từ nhiều góc độ khác nhau.
DHTML kết hợp HTML (nội dung trang Web), cascading style sheet (trang định dạng Web) và đặc ngữ (script) để làm cho trang Web có tính tương tác cao. Cả Microsoft Internet Explorer 4.0 và Netscape Communicator 4.0 đều hỗ trợ DHTML nhưng cách làm có khác nhau. Ngay cả W3C cũng chưa có định nghĩa rõ ràng về DHTML. Trung tâm của DHTML là mô thức Document Object Model (DOM), một giao tiếp độc lập nền tảng và ngôn ngữ, cho phép các đặc ngữ (còn gọi là ngữ kịch bản) truy cập và thay đổi kiểu thức, cấu trúc và nội dung của trang Web mà không cần phải tới server.
Microsoft khẳng định giải pháp DHTML của hãng siêu hơn của Netscape vì dựa trên DOM. Dùng JavaScript và VBScript có thể dễ dàng điều khiển dạng thức và hành vi của đối tượng trong trang Web đang mở. FrontPage 98 cũng hỗ trợ một số đặc tính của DHTML.
Nhánh DHTML của Netscape bao gồm CSS (Cascading Style Sheet), điều chỉnh vị trí đối tượng và font tải xuống tự động. Các tính năng CSS có một số điểm giống của Microsoft, nhưng người thiết kế Web không thể tổ chức thay đổi mọi phần tử trong trang ngay khi thực hiện (on the fly). Có thể đây là một may mắn vì chỉnh động mọi phần tử cũng có nghĩa là dễ bị lầm lẫn hơn. Phông tải xuống tự động thật sự hữu ích (nhất là đối với người dùng Việt Nam - ND) vì khi browser phát hiện không có font chữ tương ứng cần để hiển thị trang, font đó sẽ được tự động tải xuống và cài vào máy bạn (không phải tự cài bằng tay qua Control Panel).
Do thực thi DHTML theo những cách khác nhau của Microsoft và Netscape, người tạo Web phải cân đối để sao cho trang của mình hiện đúng trong cả IE 4.0 lẫn Communicator 4.0, một công việc không lấy gì làm đơn giản.
Cascading Style Sheets
Những ai từng thiết kế trang Web đều biết rằng kiểm soát vị trí hình ảnh, văn bản và các đối tượng HTML là vấn đề khá đau đầu. Hiện nay, người ta thường dùng kiến trúc bảng với tham số BORDER = 0 (không kẻ viền và đường ngang/dọc chia tách nội dung bảng) và khung (frame) để định vị các phần tử HTML. Điều này sắp trở nên lạc hậu vì ngày càng nhiều người chuyển sang dùng CSS (Cascading Style Sheets), các trang định dạng mang thông tin về kiểu thức của các phần tử trong trang Web, tính năng mới được cả IE 4.0 lẫn Communicator 4.0 hỗ trợ.
CSS cho phép người tạo Web kiểm soát tốt hơn dạng thức và trình bày của trang Web. CSS1, mức đầu tiên của các CSS, được W3C đề xuất như một chuẩn công nghiệp.
CSS là khuôn mẫu (template) cho phép định kiểu thức một lần cho các phần tử HTML nhưng áp dụng cho tất cả các phiên thể (instance) của đối tượng đó mỗi khi chúng hiện diện trong trang Web. Thay đổi trong CSS sẽ làm thay đổi trong toàn Web site, kết quả là nhanh chóng tạo được site với các trang Web nhất quán.
Mở rộng CSS1 để kiểm soát được vị trí của đối tượng trong trang Web là bước phát triển tiếp theo. Đối tượng bây giờ có thể ẩn (hidden)/hiện (visible) theo ý muốn (có thể từ chương trình, ví dụ từ mã viết bằng JavaScript hoặc VBScript), thậm chí có thể chồng lớp lên nhau. Cả IE 4.0 lẫn Communicator 4.0 đều hỗ trợ tính năng này nhưng vẫn chưa có chuẩn được W3C chấp thuận.
Shockwave
Để dựng các cơ sở Web đa phương tiện và có tính tương tác cao, không cần phải nhìn đâu xa, ngoài Shockwave của Macromedia. Với công nghệ này, bạn tạo được giao diện, trình diễn, các trang quảng cáo, các trò chơi trực tuyến sống động. Macromedia vừa thêm khả năng chia đoạn (streaming) vào Shockwave, cho phép âm thanh và hoạt hình được phát ngay trong thời gian đang tải xuống. Hai ứng dụng chính của công nghệ Shockwave là: Macromedia Director và Macromedia Flash.
Macromedia Director
Đây là chuẩn trong thực tế dùng để tạo các đầu ra chuyên multimedia bao gồm trò chơi, CD-ROM tương tác, trình diễn dùng audio/video... Các tập tin Shockwave có thể được tạo lập bằng Director 5.0. Đầu tiên phim phải được tạo trong phần mềm này và ghi theo dạng thức của Director.
Do các tập tin như vậy được thiết kế đặc biệt cho Internet, điều quan trọng là kích cỡ của chúng phải nhỏ. Bước tiếp theo là dùng Afterburner Xtra, một tiện ích add-on, để nén phim Shockwave và đổi sang dạng .DCR. Tập tin kết quả có thể được nhúng vào trang Web qua thẻ <embed> (với Navigator) hoặc <object> (với IE). Cả 2 thẻ này được sử dụng để đảm bảo cho phim Shockwave xem được trong cả hai trình duyệt. Cần thay đổi đôi chút trên server, có thể phải yêu cầu ISP (nhà cung cấp dịch vụ Internet) cấu hình server sao cho nó có thể nhận biết được các tập tin Shockwave.
Tuy nhiên, trước khi người dùng có thể thưởng thức được phim Shockwave tạo bởi Director, họ cần phải tải xuống Shockwave for Director, phần mềm bổ sung (plug-in) dành cho Navigator hoặc điều khiển ActiveX cho Internet Explorer.
Phiên bản 6.0 của Director có khả năng tạo trực tiếp các tập tin Shockwave, phát triển Shocked CD (kết hợp nội dung kiểu CD và kiểu Internet), và hỗ trợ JavaScript hoặc đặc ngữ khác thân thiện browser. Phim Director cũng có thể ghi trực tiếp dưới dạng Shockwave.
Macromedia Flash
Cách dễ dàng hơn để tạo phim hoặc tập tin nhúng được vào trang Web là dùng công nghệ Flash. Bản 2.0 của Flash cho phép phối hợp đồ họa vectơ với âm thanh để tạo hình hoạt, giao diện Web tương tác và các nút lệnh theo dạng thức không chiếm nhiều băng thông.
Flash 2.0 hỗ trợ âm thanh .WAV và .AIFF (cho Macintosh), và tự động chuyển đổi các tập tin Web chuẩn như GIF và JPEG sang dạng đồ hoạ vectơ nhỏ hơn, độc lập với độ phân giải. Một trong những thế mạnh của việc tạo tập tin Shockwave trong Flash 2.0 là chia đoạn, cho phép người dùng xem phim trong thời gian tập tin tương ứng vẫn còn đang tải xuống. Cũng vậy, các tập tin Shockwave Flash có thể được tạo trực tiếp trong Flash 2.0 mà không cần đến trình chuyển đổi và nén ngoài.
Flash 2.0 còn cho phép dễ dàng thêm nút lệnh tương tác và ảnh đồ họa vào trang Web. Aảnh có thể đổi kích cỡ hoặc mở rộng mà không bị giảm chất lượng, đặc biệt có thể đổi kích cỡ tự động khi cửa sổ của trình duyệt thay đổi diện tích.
Các tập tin Shockwave Flash (.SWF) được đưa vào trang Web theo phương thức như đối với các tập tin Shockwave Director (.DCR) - dùng các thẻ <embed> hoặc <object> của HTML. Tương tự, Web server mà trên đó có các trang nâng cấp theo công nghệ Shockwave, cần được cấu hình lại để nhận biết được các dạng thức tập tin mới.
Ngoài Flash 2.0 và Director, các tập tin Shockwave có thể được xây dựng bằng Authorware, một sản phẩm khác của Macromedia cho phép chủ nhân Web (Webmaster) tạo được các trang multimedia và đĩa CD giáo dục. Mới đây, Shockwave đưa ra Flash player for Java để người dùng có thể xem được các site Flash mà không cần đến plug-in Shockwave hoặc ActiveX Control.
Tham khảo thêm thông tin về công nghệ Shockwave qua địa chỉ: http://www.macromedia.com.
RealPlayer
Có lẽ sản phẩm audio phân đoạn phổ biến nhất là của RealNetworks (trước kia là Progressive Networks). Tuyến sản phẩm của hãng này gồm có: RealAudio, RealVideo, RealPlayer, RealFlash và RealSystem.
RealAudio
Với hệ thống RealAudio, chủ nhân Web có thể chia đoạn âm nhạc và tiếng nói trên Internet để đưa tới client. Chia đoạn (streaming) có nghĩa là khi người sử dụng nhấn vào siêu liên kết tương ứng, RealAudio Player được khởi động và âm thanh sẽ phát ra ngay sau khi đoạn đầu tiên được tải xuống. Có thể điều khiển dòng âm thanh bằng các nút lệnh như Stop, Start, Pause, Rewind và Forward. Trên server, cần mã hóa âm thanh để ghi thành tập tin hoặc clip. Phụ thuộc vào nội dung cụ thể và dải thông, RealAudio clip được ghi theo dạng thức thích hợp. RealAudio cho phép đồng bộ ảnh và trang Web để tạo được các trình diễn online. Có những dạng thức như: RealAudio clip (.RA), tập tin âm thanh mã hóa bằng RealAudio Encoder, siêu tập tin (metafile) (.RAM) cho phép truy cập một hay nhiều clip RealAudio từ trang Web (siêu tập tin chứa các URL tới tài nguyên tương ứng).
Siêu tập tin RealAudio Plug-in (.RPM) giống như RealAudio metafile nhưng dùng đặc biệt cho Netscape Navigator RealAudio Plug-in. Tập tin sự kiện (.RAE) chứa thông tin về tham số của trình diễn multimedia đồng bộ hóa. Tập tin này phải có cùng tên với tập RealAudio và phải trong cùng thư mục trên RealAudio server. Tập tin .RAE tạo lập bằng trình biên dịch CEVENTS.
Hệ thống RealAudio là hệ client/server bao gồm RealAudio Server đẩy các clip RealAudio tới RealAudio Player (client). Phía khách là RealAudio Player cho phép người dùng nghe nhạc với sự trợ giúp của ActiveX Control hoặc trình bổ sung. Web server phải được cấu hình để nhận biết được clip RealAudio.
RealPlayer
Các sản phẩm của RealNetworks không chỉ hạn chế ở thông tin audio (âm thanh). Phần mềm RealPlayer 5.0 mới có thể chia đoạn cả RealAudio, RealVideo và RealFlash. Các tập tin RealFlash được tạo bởi Macromedia Flash và đồng bộ bởi RealAudio. Với RealSystem 5.0, chủ nhân Web có trong tay giải pháp client/server bao gồm RealPlayer và RealServer dùng để đơn giản hóa quá trình nhúng thông tin nghe/nhìn vào trang Web. Có những tùy chọn cho phép thêm các đoạn quảng cáo vào audio/video clip.
Webcasting
Đây chính là công nghệ "đẩy" (push), lĩnh vực mà cả Microsoft lẫn Netscape đang giành giật với cách thực thi khác nhau. Sử dụng công nghệ push, người dùng đăng ký sẵn nội dung nào đó cần quan tâm thường xuyên, và sau đó nội dung này được tự động cập nhật liên tục mà không phải tự tay "kéo" (pull) về. Tốt nhất hãy sử dụng IE 4.0 hoặc Communicator 4.0 thay vì những công cụ khác như PointCast Network, BackWeb hoặc Castanet vì bạn phải mua, cài đặt và thiết lập cấu hình phần mềm server riêng, còn người dùng Web phải tải xuống phần mềm dành cho client. Công nghệ đẩy có sẵn trong các phiên bản 4.0 của cả hai browser nổi tiếng.
Netscape Netcaster
Netcaster là thành phần hỗ trợ công nghệ đẩy của bộ Netscape Communicator. Nó cũng có trong phiên bản Navigator 4.0 độc lập, dựa trên HTML, Dynamic HTML, JavaScript và Java.
Với Netcaster, người dùng truy cập các kênh có sẵn hoặc nội dung đăng ký từ trước, và máy PC của họ liên tục được cập nhật bằng những thông tin mới nhất. Đăng ký chủ đề chỉ bằng một thao tác nhấn vào nút lệnh Subscribe (đăng ký) và chọn vấn đề đưa vào danh sách các kênh cần tự động cập nhật.
Có 2 loại kênh: kênh chuẩn mà bất cứ ai cũng có thể dựng trên Web server thông thường, và các kênh Castanet Transmitter. Đây là các kênh dựa trên Java và tự động đẩy tới máy người sử dụng nhờ công nghệ của Marimba. Các kênh tải xuống trong chế độ hậu trường (background) khi người dùng xem những tin khác trên Internet, sau đó được xem trong chế độ trực tuyến hoặc ngoại tuyến. Các kênh Netcaster hiển thị trong cửa sổ nhỏ hoặc trong chế độ Webtop, tức toàn màn hình nhưng nằm dưới các ứng dụng khác.
Netscape đưa ra một số wizard dùng để trợ giúp tạo kênh cho các chủ nhân Web. Họ thậm chí không cần biết đến JavaScript hoặc DHTML. Ví dụ, wizard Webtop tải xuống từ địa chỉ http://developer.netscape.com cho phép nhanh chóng xác định và dựng kênh Webtop chuyên biệt, và sản sinh ra mã tương ứng dùng để cắt và dán vào Web site trang bị Netcaster. Netcaster Add Channel Wizard hướng dẫn cho người phát triển Netcaster cũng có tại địa chỉ đó.
Netcaster còn hỗ trợ các kênh Castanet. Đây là các kênh mạnh và linh hoạt hơn nhiều so với các kênh dựa trên Web server. Đó có thể là các trang HTML, cả một Web site, một ứng dụng hoặc trình con Java, hay một kênh phần mềm tự động cài và cập nhật lên máy người dùng. Để triển khai kênh Castanet, chủ nhân Web có thể dùng các công cụ Java hoặc HTML thứ ba, trình phát hành Castanet và phần mềm server dùng để phân phối ứng dụng.
Microsoft Active Channels
IE 4.0 cũng hỗ trợ Webcasting nhưng dùng công nghệ Active Channel dựa trên dạng thức CDF (Channel Definition Format), một chuẩn do Microsoft đề xuất dùng để xây dựng các nội dung cần đẩy.
Cũng như Netcaster của Netscape, công nghệ Active Channel cho phép người dùng truy cập các kênh cài sẵn bằng IE, cho phép đăng ký kênh từ Web site qua nút lệnh Subscribe, sau đó thêm kênh vào danh sách. Các kênh sẽ tự động cập nhật sau một khoảng thời gian định trước.
CDF là điểm khác biệt giữa Active Channel và Netcaster. Nó cho phép người phát triển Web dựng những kênh có thể được xem và tự động cập nhật trong bất cứ phần mềm nào phía client có tính năng CDF. Tuy nhiên, hiện tại chỉ có IE 4.0 là phần mềm duy nhất hỗ trợ đầy đủ dạng thức này.
Để thêm nội dung đẩy vào Web site và chuyển thành Active Channel, phải tạo lập tập tin CDF. Nội dung tập tin này được soạn thảo theo cú pháp tương tự như HTML, dùng để mô tả cấu trúc và thời gian cập nhật Active Channel. Chủ nhân Web dùng bộ soạn thảo văn bản bất kỳ để soạn các thẻ CDF. Phiên bản mới nhất của FrontPage (bản 98) có thể giúp tự động tạo các tập tin CDF như vậy. Microsoft CDF Generator cũng là một công cụ tạo tập tin CDF, có thể được tải xuống từ Web site của Microsoft, nhưng hiện chỉ có cho các thành viên của Microsoft Site Builder Network.
Tương tự các kênh Netcaster, các Active Channel có 2 dạng: Trang Web mô tả thông tin cần cập nhật cũng như cung cấp các liên kết tới nội dung mới, và Active Desktop. Kênh dựa trên trang Web chứa mọi thứ mà bạn thấy trong trang Web thông thường - ảnh đồ họa, âm thanh, Java applet, DHTML và các ActiveX Control. Các thành phần liên quan đến Java applet và điều khiển ActiveX không hoạt động khi kênh được xem offline (ngoại tuyến).
Active Desktop của Microsoft trội hơn Netcaster Webtop của Netscape về phương diện hoạt động. Với Active Desktop, các biểu tượng Windows và các kênh có thể cùng hiện diện trên desktop, mang tới những nội dung mới nhất như tin tức trên thị trường chứng khoán hoặc tin thời sự giờ chót. Người dùng có thể tự tay thêm nội dung vào Active Desktop từ Active Desktop Gallery của Microsoft hoặc từ các Web site cung cấp những nội dung như vậy.
Tô Tuấn PC World US 1/98
Internet đã trải qua bước phát triển dài kể từ khi Tim Berners-Lee ở phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân châu Ấu (CERN) đưa ra khái niệm HTML (HyperText Markup Language), và 2 sinh viên của trung tâm NCSA (National Center for Supercomputing Applications) thuộc đại học Illinois, viết những dòng mã của phần mềm Mosaic, trình duyệt Web đầu tiên dựa trên ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản. Thời đó, Internet chủ yếu là môi trường văn bản của các kỹ thuật viên và những người hâm mộ giao diện dòng lệnh. Mosaic khởi đầu cho sự phát triển của World Wide Web, bộ phận đồ họa của Internet, và phần còn lại do lịch sử định đoạt. Hai sinh viên đồng tác giả Mosaic là Marc Andreessen và Eric Bina, hiện cùng làm việc cho Netscape, công ty đứng sau trình duyệt Web đang phổ biến nhất.
Bản thân Web cũng thay đổi nhiều. Nó không còn chỉ là tập hợp các hình ảnh tĩnh, những siêu liên kết đơn giản, mà giờ đây nội dung thực sự sinh động với hoạt họa và audio/video tương tác, dùng làm nền tảng để phân phối phần mềm và những công nghệ "siêu đẳng" khác mà HTML nguyên thủy chưa thể hình dung được. Phiên bản mới nhất hiện nay của HTML là 4.0, cơ hội sáng tạo chưa từng có cho các thợ thiết kế Web. Doanh nghiệp nào không biết tận dụng công nghệ mới để xây dựng các Web site hấp dẫn, trước sau rồi cũng sẽ mất dần khách đến thăm.
Ngôn ngữ HTML 4.0 có nhiều điểm mới, ngoài ra Netscape Navigator và Microsoft Internet Explorer còn hỗ trợ nhiều loại thẻ HTML chuyên dụng. Các site có thể nâng cấp nhờ công nghệ plug-in của trình duyệt Web như Shockwave hoặc các phần mềm RealAudio và RealVideo, chúng chỉ gọi Web browser mỗi khi người sử dụng nhấn vào một siêu liên kết. Hiện nay đang phổ biến việc dùng ngữ trình Java để nâng cấp Web site. Các trình con Java (Java applets) rất mạnh và mềm dẻo, dùng để thiết kế các thực đơn tương tác, các nút động và thêm âm thanh cũng như hoạt hình vào trang Web. Người dùng chỉ cần được trang bị trình duyệt có tính năng Java. Ngôn ngữ HTML có thẻ <embed> cùng với các tham số cần thiết để nhúng trình con Java vào trang Web. Tại các địa chỉ http://www.gamelan.com của Gamelan và http://www.jars.com của Java Applet Rating Service, có danh sách các applet thương mại và miễn phí bạn có thể tải xuống và sử dụng.
Một xu hướng mới chủ yếu khác là tăng cường khả năng trao đổi thông tin giữa các khách hàng của Web site. Chuyện phiếm (chat) trên mạng không còn thuần túy là tiêu khiển nữa, mà thực sự là phương tiện làm ăn của người sử dụng. Web site nào hỗ trợ chat room, site đó sẽ có nhiều khách hàng hơn. Chat room còn được sử dụng để hỗ trợ kỹ thuật cho người tiêu dùng. Công ty iChat (địa chỉ http://www.ichat.com) vừa đưa ra giải pháp Client/Server mạnh cho chat trên Internet/intranet. Tuy nhiên, chat vẫn ở những bước phát triển còn non nớt, đang có những ý định chuẩn hóa trong lĩnh vực này.
Công nghệ Web phát triển rất nhanh chóng. Nếu cứ cố bám lấy các thẻ HTML lỗi thời thì chỉ làm cho Web site của mình kém hấp dẫn và không còn hiệu quả ngay trong tương lai không xa. Chúng ta hãy cùng xem xét những công nghệ mới đó.
HTML
HTML 4.0 là phiên bản mới nhất của ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản. Đây là kết quả trao đổi và bàn luận giữa các thành viên của HTML Working Group thuộc W3C (World Wide Web Consortium) với sự hợp tác của những công ty có thế lực ảnh hưởng tới tương lai HTML - đó là Adobe Systems, Hewlett-Packard, IBM, Microsoft, Netscape, Novell, SoftQuad, Spyglass và Sun Microsystems.
HTML 4.0 hỗ trợ nhiều thành phần multimedia hơn so với phiên bản 3.2, có các thẻ (tag) giúp in trang Web tốt hơn, những đặc tính mới làm cho trang Web dễ truy cập hơn đối với những người có khả năng hạn chế; ngoài ra dựng trang Web đa ngữ dễ dàng hơn nhiều so với trước. Với HTML 4.0, các tư liệu viết trên ngôn ngữ riêng được hiển thị với đầy đủ kiểu thức đặc thù. Một tư liệu Web bây giờ có thể hỗ trợ nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Mẫu biểu (form) trong HTML 4.0 cũng cao cấp hơn: có thể hiển thị HTML (trang Web) trong nút lệnh bất kỳ, tạo được các điều khiển với thuộc tính read-only, có thêm đối tượng nhãn (label) và các phím tắt (keyboard shortcut) gắn với điều khiển.
Khung (frame) cũng được cải tiến: ngoài khung cố định có tác dụng chia cửa sổ Web thành nhiều cửa sổ nhỏ, còn có thêm khái niệm khung in-line (khung trong tư liệu), tức khung xen kẽ động với dữ liệu (thực ra Internet Explorer đã hỗ trợ kiểu khung này bằng thẻ từ phiên bản 3.0 - ND).
Với bảng (table), các cột có thể nhóm lại với nhau để dễ đặc tả khi chúng có cùng một tính chất, kiểm soát viền (border) cũng tốt hơn. Đặc biệt, người thiết kế Web có thể đặc tả số cột và bề rộng từng cột ngay trong thẻ
Dynamic HTML
HTML động (DHTML) là phương tiện có nhiều hứa hẹn cho các Web site, tuy nhiên nhiều người còn chưa biết chính xác nó là gì. Đó là do Dynamic HTML có thể được hiểu khác nhau từ nhiều góc độ khác nhau.
DHTML kết hợp HTML (nội dung trang Web), cascading style sheet (trang định dạng Web) và đặc ngữ (script) để làm cho trang Web có tính tương tác cao. Cả Microsoft Internet Explorer 4.0 và Netscape Communicator 4.0 đều hỗ trợ DHTML nhưng cách làm có khác nhau. Ngay cả W3C cũng chưa có định nghĩa rõ ràng về DHTML. Trung tâm của DHTML là mô thức Document Object Model (DOM), một giao tiếp độc lập nền tảng và ngôn ngữ, cho phép các đặc ngữ (còn gọi là ngữ kịch bản) truy cập và thay đổi kiểu thức, cấu trúc và nội dung của trang Web mà không cần phải tới server.
Microsoft khẳng định giải pháp DHTML của hãng siêu hơn của Netscape vì dựa trên DOM. Dùng JavaScript và VBScript có thể dễ dàng điều khiển dạng thức và hành vi của đối tượng trong trang Web đang mở. FrontPage 98 cũng hỗ trợ một số đặc tính của DHTML.
Nhánh DHTML của Netscape bao gồm CSS (Cascading Style Sheet), điều chỉnh vị trí đối tượng và font tải xuống tự động. Các tính năng CSS có một số điểm giống của Microsoft, nhưng người thiết kế Web không thể tổ chức thay đổi mọi phần tử trong trang ngay khi thực hiện (on the fly). Có thể đây là một may mắn vì chỉnh động mọi phần tử cũng có nghĩa là dễ bị lầm lẫn hơn. Phông tải xuống tự động thật sự hữu ích (nhất là đối với người dùng Việt Nam - ND) vì khi browser phát hiện không có font chữ tương ứng cần để hiển thị trang, font đó sẽ được tự động tải xuống và cài vào máy bạn (không phải tự cài bằng tay qua Control Panel).
Do thực thi DHTML theo những cách khác nhau của Microsoft và Netscape, người tạo Web phải cân đối để sao cho trang của mình hiện đúng trong cả IE 4.0 lẫn Communicator 4.0, một công việc không lấy gì làm đơn giản.
Cascading Style Sheets
Những ai từng thiết kế trang Web đều biết rằng kiểm soát vị trí hình ảnh, văn bản và các đối tượng HTML là vấn đề khá đau đầu. Hiện nay, người ta thường dùng kiến trúc bảng với tham số BORDER = 0 (không kẻ viền và đường ngang/dọc chia tách nội dung bảng) và khung (frame) để định vị các phần tử HTML. Điều này sắp trở nên lạc hậu vì ngày càng nhiều người chuyển sang dùng CSS (Cascading Style Sheets), các trang định dạng mang thông tin về kiểu thức của các phần tử trong trang Web, tính năng mới được cả IE 4.0 lẫn Communicator 4.0 hỗ trợ.
CSS cho phép người tạo Web kiểm soát tốt hơn dạng thức và trình bày của trang Web. CSS1, mức đầu tiên của các CSS, được W3C đề xuất như một chuẩn công nghiệp.
CSS là khuôn mẫu (template) cho phép định kiểu thức một lần cho các phần tử HTML nhưng áp dụng cho tất cả các phiên thể (instance) của đối tượng đó mỗi khi chúng hiện diện trong trang Web. Thay đổi trong CSS sẽ làm thay đổi trong toàn Web site, kết quả là nhanh chóng tạo được site với các trang Web nhất quán.
Mở rộng CSS1 để kiểm soát được vị trí của đối tượng trong trang Web là bước phát triển tiếp theo. Đối tượng bây giờ có thể ẩn (hidden)/hiện (visible) theo ý muốn (có thể từ chương trình, ví dụ từ mã viết bằng JavaScript hoặc VBScript), thậm chí có thể chồng lớp lên nhau. Cả IE 4.0 lẫn Communicator 4.0 đều hỗ trợ tính năng này nhưng vẫn chưa có chuẩn được W3C chấp thuận.
Shockwave
Để dựng các cơ sở Web đa phương tiện và có tính tương tác cao, không cần phải nhìn đâu xa, ngoài Shockwave của Macromedia. Với công nghệ này, bạn tạo được giao diện, trình diễn, các trang quảng cáo, các trò chơi trực tuyến sống động. Macromedia vừa thêm khả năng chia đoạn (streaming) vào Shockwave, cho phép âm thanh và hoạt hình được phát ngay trong thời gian đang tải xuống. Hai ứng dụng chính của công nghệ Shockwave là: Macromedia Director và Macromedia Flash.
Macromedia Director
Đây là chuẩn trong thực tế dùng để tạo các đầu ra chuyên multimedia bao gồm trò chơi, CD-ROM tương tác, trình diễn dùng audio/video... Các tập tin Shockwave có thể được tạo lập bằng Director 5.0. Đầu tiên phim phải được tạo trong phần mềm này và ghi theo dạng thức của Director.
Do các tập tin như vậy được thiết kế đặc biệt cho Internet, điều quan trọng là kích cỡ của chúng phải nhỏ. Bước tiếp theo là dùng Afterburner Xtra, một tiện ích add-on, để nén phim Shockwave và đổi sang dạng .DCR. Tập tin kết quả có thể được nhúng vào trang Web qua thẻ <embed> (với Navigator) hoặc <object> (với IE). Cả 2 thẻ này được sử dụng để đảm bảo cho phim Shockwave xem được trong cả hai trình duyệt. Cần thay đổi đôi chút trên server, có thể phải yêu cầu ISP (nhà cung cấp dịch vụ Internet) cấu hình server sao cho nó có thể nhận biết được các tập tin Shockwave.
Tuy nhiên, trước khi người dùng có thể thưởng thức được phim Shockwave tạo bởi Director, họ cần phải tải xuống Shockwave for Director, phần mềm bổ sung (plug-in) dành cho Navigator hoặc điều khiển ActiveX cho Internet Explorer.
Phiên bản 6.0 của Director có khả năng tạo trực tiếp các tập tin Shockwave, phát triển Shocked CD (kết hợp nội dung kiểu CD và kiểu Internet), và hỗ trợ JavaScript hoặc đặc ngữ khác thân thiện browser. Phim Director cũng có thể ghi trực tiếp dưới dạng Shockwave.
Macromedia Flash
Cách dễ dàng hơn để tạo phim hoặc tập tin nhúng được vào trang Web là dùng công nghệ Flash. Bản 2.0 của Flash cho phép phối hợp đồ họa vectơ với âm thanh để tạo hình hoạt, giao diện Web tương tác và các nút lệnh theo dạng thức không chiếm nhiều băng thông.
Flash 2.0 hỗ trợ âm thanh .WAV và .AIFF (cho Macintosh), và tự động chuyển đổi các tập tin Web chuẩn như GIF và JPEG sang dạng đồ hoạ vectơ nhỏ hơn, độc lập với độ phân giải. Một trong những thế mạnh của việc tạo tập tin Shockwave trong Flash 2.0 là chia đoạn, cho phép người dùng xem phim trong thời gian tập tin tương ứng vẫn còn đang tải xuống. Cũng vậy, các tập tin Shockwave Flash có thể được tạo trực tiếp trong Flash 2.0 mà không cần đến trình chuyển đổi và nén ngoài.
Flash 2.0 còn cho phép dễ dàng thêm nút lệnh tương tác và ảnh đồ họa vào trang Web. Aảnh có thể đổi kích cỡ hoặc mở rộng mà không bị giảm chất lượng, đặc biệt có thể đổi kích cỡ tự động khi cửa sổ của trình duyệt thay đổi diện tích.
Các tập tin Shockwave Flash (.SWF) được đưa vào trang Web theo phương thức như đối với các tập tin Shockwave Director (.DCR) - dùng các thẻ <embed> hoặc <object> của HTML. Tương tự, Web server mà trên đó có các trang nâng cấp theo công nghệ Shockwave, cần được cấu hình lại để nhận biết được các dạng thức tập tin mới.
Ngoài Flash 2.0 và Director, các tập tin Shockwave có thể được xây dựng bằng Authorware, một sản phẩm khác của Macromedia cho phép chủ nhân Web (Webmaster) tạo được các trang multimedia và đĩa CD giáo dục. Mới đây, Shockwave đưa ra Flash player for Java để người dùng có thể xem được các site Flash mà không cần đến plug-in Shockwave hoặc ActiveX Control.
Tham khảo thêm thông tin về công nghệ Shockwave qua địa chỉ: http://www.macromedia.com.
RealPlayer
Có lẽ sản phẩm audio phân đoạn phổ biến nhất là của RealNetworks (trước kia là Progressive Networks). Tuyến sản phẩm của hãng này gồm có: RealAudio, RealVideo, RealPlayer, RealFlash và RealSystem.
RealAudio
Với hệ thống RealAudio, chủ nhân Web có thể chia đoạn âm nhạc và tiếng nói trên Internet để đưa tới client. Chia đoạn (streaming) có nghĩa là khi người sử dụng nhấn vào siêu liên kết tương ứng, RealAudio Player được khởi động và âm thanh sẽ phát ra ngay sau khi đoạn đầu tiên được tải xuống. Có thể điều khiển dòng âm thanh bằng các nút lệnh như Stop, Start, Pause, Rewind và Forward. Trên server, cần mã hóa âm thanh để ghi thành tập tin hoặc clip. Phụ thuộc vào nội dung cụ thể và dải thông, RealAudio clip được ghi theo dạng thức thích hợp. RealAudio cho phép đồng bộ ảnh và trang Web để tạo được các trình diễn online. Có những dạng thức như: RealAudio clip (.RA), tập tin âm thanh mã hóa bằng RealAudio Encoder, siêu tập tin (metafile) (.RAM) cho phép truy cập một hay nhiều clip RealAudio từ trang Web (siêu tập tin chứa các URL tới tài nguyên tương ứng).
Siêu tập tin RealAudio Plug-in (.RPM) giống như RealAudio metafile nhưng dùng đặc biệt cho Netscape Navigator RealAudio Plug-in. Tập tin sự kiện (.RAE) chứa thông tin về tham số của trình diễn multimedia đồng bộ hóa. Tập tin này phải có cùng tên với tập RealAudio và phải trong cùng thư mục trên RealAudio server. Tập tin .RAE tạo lập bằng trình biên dịch CEVENTS.
Hệ thống RealAudio là hệ client/server bao gồm RealAudio Server đẩy các clip RealAudio tới RealAudio Player (client). Phía khách là RealAudio Player cho phép người dùng nghe nhạc với sự trợ giúp của ActiveX Control hoặc trình bổ sung. Web server phải được cấu hình để nhận biết được clip RealAudio.
RealPlayer
Các sản phẩm của RealNetworks không chỉ hạn chế ở thông tin audio (âm thanh). Phần mềm RealPlayer 5.0 mới có thể chia đoạn cả RealAudio, RealVideo và RealFlash. Các tập tin RealFlash được tạo bởi Macromedia Flash và đồng bộ bởi RealAudio. Với RealSystem 5.0, chủ nhân Web có trong tay giải pháp client/server bao gồm RealPlayer và RealServer dùng để đơn giản hóa quá trình nhúng thông tin nghe/nhìn vào trang Web. Có những tùy chọn cho phép thêm các đoạn quảng cáo vào audio/video clip.
Webcasting
Đây chính là công nghệ "đẩy" (push), lĩnh vực mà cả Microsoft lẫn Netscape đang giành giật với cách thực thi khác nhau. Sử dụng công nghệ push, người dùng đăng ký sẵn nội dung nào đó cần quan tâm thường xuyên, và sau đó nội dung này được tự động cập nhật liên tục mà không phải tự tay "kéo" (pull) về. Tốt nhất hãy sử dụng IE 4.0 hoặc Communicator 4.0 thay vì những công cụ khác như PointCast Network, BackWeb hoặc Castanet vì bạn phải mua, cài đặt và thiết lập cấu hình phần mềm server riêng, còn người dùng Web phải tải xuống phần mềm dành cho client. Công nghệ đẩy có sẵn trong các phiên bản 4.0 của cả hai browser nổi tiếng.
Netscape Netcaster
Netcaster là thành phần hỗ trợ công nghệ đẩy của bộ Netscape Communicator. Nó cũng có trong phiên bản Navigator 4.0 độc lập, dựa trên HTML, Dynamic HTML, JavaScript và Java.
Với Netcaster, người dùng truy cập các kênh có sẵn hoặc nội dung đăng ký từ trước, và máy PC của họ liên tục được cập nhật bằng những thông tin mới nhất. Đăng ký chủ đề chỉ bằng một thao tác nhấn vào nút lệnh Subscribe (đăng ký) và chọn vấn đề đưa vào danh sách các kênh cần tự động cập nhật.
Có 2 loại kênh: kênh chuẩn mà bất cứ ai cũng có thể dựng trên Web server thông thường, và các kênh Castanet Transmitter. Đây là các kênh dựa trên Java và tự động đẩy tới máy người sử dụng nhờ công nghệ của Marimba. Các kênh tải xuống trong chế độ hậu trường (background) khi người dùng xem những tin khác trên Internet, sau đó được xem trong chế độ trực tuyến hoặc ngoại tuyến. Các kênh Netcaster hiển thị trong cửa sổ nhỏ hoặc trong chế độ Webtop, tức toàn màn hình nhưng nằm dưới các ứng dụng khác.
Netscape đưa ra một số wizard dùng để trợ giúp tạo kênh cho các chủ nhân Web. Họ thậm chí không cần biết đến JavaScript hoặc DHTML. Ví dụ, wizard Webtop tải xuống từ địa chỉ http://developer.netscape.com cho phép nhanh chóng xác định và dựng kênh Webtop chuyên biệt, và sản sinh ra mã tương ứng dùng để cắt và dán vào Web site trang bị Netcaster. Netcaster Add Channel Wizard hướng dẫn cho người phát triển Netcaster cũng có tại địa chỉ đó.
Netcaster còn hỗ trợ các kênh Castanet. Đây là các kênh mạnh và linh hoạt hơn nhiều so với các kênh dựa trên Web server. Đó có thể là các trang HTML, cả một Web site, một ứng dụng hoặc trình con Java, hay một kênh phần mềm tự động cài và cập nhật lên máy người dùng. Để triển khai kênh Castanet, chủ nhân Web có thể dùng các công cụ Java hoặc HTML thứ ba, trình phát hành Castanet và phần mềm server dùng để phân phối ứng dụng.
Microsoft Active Channels
IE 4.0 cũng hỗ trợ Webcasting nhưng dùng công nghệ Active Channel dựa trên dạng thức CDF (Channel Definition Format), một chuẩn do Microsoft đề xuất dùng để xây dựng các nội dung cần đẩy.
Cũng như Netcaster của Netscape, công nghệ Active Channel cho phép người dùng truy cập các kênh cài sẵn bằng IE, cho phép đăng ký kênh từ Web site qua nút lệnh Subscribe, sau đó thêm kênh vào danh sách. Các kênh sẽ tự động cập nhật sau một khoảng thời gian định trước.
CDF là điểm khác biệt giữa Active Channel và Netcaster. Nó cho phép người phát triển Web dựng những kênh có thể được xem và tự động cập nhật trong bất cứ phần mềm nào phía client có tính năng CDF. Tuy nhiên, hiện tại chỉ có IE 4.0 là phần mềm duy nhất hỗ trợ đầy đủ dạng thức này.
Để thêm nội dung đẩy vào Web site và chuyển thành Active Channel, phải tạo lập tập tin CDF. Nội dung tập tin này được soạn thảo theo cú pháp tương tự như HTML, dùng để mô tả cấu trúc và thời gian cập nhật Active Channel. Chủ nhân Web dùng bộ soạn thảo văn bản bất kỳ để soạn các thẻ CDF. Phiên bản mới nhất của FrontPage (bản 98) có thể giúp tự động tạo các tập tin CDF như vậy. Microsoft CDF Generator cũng là một công cụ tạo tập tin CDF, có thể được tải xuống từ Web site của Microsoft, nhưng hiện chỉ có cho các thành viên của Microsoft Site Builder Network.
Tương tự các kênh Netcaster, các Active Channel có 2 dạng: Trang Web mô tả thông tin cần cập nhật cũng như cung cấp các liên kết tới nội dung mới, và Active Desktop. Kênh dựa trên trang Web chứa mọi thứ mà bạn thấy trong trang Web thông thường - ảnh đồ họa, âm thanh, Java applet, DHTML và các ActiveX Control. Các thành phần liên quan đến Java applet và điều khiển ActiveX không hoạt động khi kênh được xem offline (ngoại tuyến).
Active Desktop của Microsoft trội hơn Netcaster Webtop của Netscape về phương diện hoạt động. Với Active Desktop, các biểu tượng Windows và các kênh có thể cùng hiện diện trên desktop, mang tới những nội dung mới nhất như tin tức trên thị trường chứng khoán hoặc tin thời sự giờ chót. Người dùng có thể tự tay thêm nội dung vào Active Desktop từ Active Desktop Gallery của Microsoft hoặc từ các Web site cung cấp những nội dung như vậy.
Tô Tuấn PC World US 1/98
Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2008
Ngôn ngữ ( Language) và trình biên dịch ( compiler)
Ngôn ngữ là 1 tập hợp những quy tắc và câu lệnh. Ví dụ đối với C bạn phải viết for như thế nào, đối với Pascal bạn phải viết for như thế nào.
Compiler lại là một chương trình dùng để chuyến 1 file source code theo 1 ngôn ngữ nào đó và chuyển đó thành 1 ngôn ngữ mà máy có thể đọc được.Vì thế cho cùng 1 ngôn ngữ C sẽ có nhiều compiler. Và 1 compiler không nhất thiết chỉ hiểu 1 ngôn ngữ nào đó. 1 compiler sẽ cung cấp sẵn 1 số cái gọi là builtin function. Đó là những hàm căn bản mà developer có thể sử dụng. Nó thông thường được chứa trong những library đi kèm. Builtin function sẽ được nói kỹ ở phần sau.Theo như điều kiện ở trên Compiler chỉ là 1 chương trình. Vì thế nó có thể được tạo ra từ bất cứ 1 compiler nào khác.Who say a C compiler cant be compiled by a C dot Net compiler ? Cũng từ đó suy ra chẳng có ngôn ngữ nào được gọi là cấp cao hay cấp thấp. Cái cấp cao hay cấp thấp ở đây là sự tùy biến cho người developer.Ở những compiler sử dụng những ngôn ngữ được gọi là cấp cao. Các builtin-function sẽ được cung cấp nhiều hơn. Tuy nhiên nó sẽ ràng buộc người developer nhiều hơn. Ví dụ như trong Java bạn sẽ không được đụng vào việc memory allocation hay deallocation.Ở những cái tạm gọi là "cấp thấp", sẽ có ít builtin-function hơn.Tuy nhiên nó tạo cơ hội cho developer được xen vào hệ thống nhiều hơn. ví dụ với C compiler bạn có thể tùy biến cấp phát vùng nhớ ở vị trí bạn muốn. Một compiler ít builtin-function hơn sẽ giúp việc chuyển từ source code người sử dụng sang mã máy ngắn gọn hơn vì đơn giản bạn biết đích xác bạn muốn làm gì. Trong khi builtin function nó phải dùng cho vô số những tình huống khác nhau và vì thế nó sẽ sinh ra mã máy dài hơn.Hiện nay với tốc độ lên đến vài tỷ phép tính một giây của 1 con chip xử lý trung tâm ( bao gồm cả các con embedded Micro CPU) , việc viết thừa ra vài trăm triệu dòng xử lý không còn quan trọng và tác động lắm đến tốc độ của hệ thống. Có chăng chỉ đối với những embedded developer viết codecs hay những chương trình đòi hỏi gần như sức mạnh của toàn bộ hệ thống.Vì thế các bạn hãy quên đi và đừng tranh cãi ngôn ngữ nào hay hơn, ngôn ngữ nào mạnh hơn. Không phải vô cớ khi thế giới có quá nhiều ngôn ngữ quá nhiều compiler hiện nay. Mỗi thứ có mặt mạnh và mặt yếu riêng của nó. Và tùy vào môi trường, tùy vào công việc tùy vào tốc độ xử lý của hệ thống, tùy vào bộ nhớ bạn đang có, tùy vào việc bảo hành hệ thống mà người designer sẽ chọn những compiler nào để làm việc.Thật có mà điên khi viết web bằng C để viết CGI ( mặc dù vẫn còn nhiều server làm thế) thay vì viết bằng php, C#.Hay có bạn nào biết rằng 1 chương trình text parser viết bằng Python chỉ tốn 4 đến 5 dòng cho 1 cái chương trình vài chục dòng nếu viết bằng C. Và bạn sẽ té xỉu nếu khi có 1 con ROM để chứa code có size 4KB và dùng C++ compiler để viết 1 Hello world đã hơn 10KB.Ông bà ta có câu : Người nào việc đó. Tôi áp dụng vô câu "Ngôn ngữ nào, compiler nào việc đó :)" Ý quên dài dòng quá mà hổng nói ý chính.Đa số compiler hiện nay được viết trên C hoặc C++. Lý do : đã nói ở trên : C và C++ tùy biến nhất, có khả năng port qua các hệ thống khác dễ dàng nhất vì không phụ thuộc nhiều vào hệ thống ( như ASM) nhưng vẫn không mất đi khả năng uyển chuyển trong việc quản lý bộ nhớ, xử lý text. Còn nếu thích bạn vẫn có thể dùng C# hay pascal để viết 1 compiler Simple C. Ở đây đâu phải là vấn đề CON GÀ đẻ quả trứng đâu.
TK:http://www.ddth.com/archive/index.php?t-14169.html
Compiler lại là một chương trình dùng để chuyến 1 file source code theo 1 ngôn ngữ nào đó và chuyển đó thành 1 ngôn ngữ mà máy có thể đọc được.Vì thế cho cùng 1 ngôn ngữ C sẽ có nhiều compiler. Và 1 compiler không nhất thiết chỉ hiểu 1 ngôn ngữ nào đó. 1 compiler sẽ cung cấp sẵn 1 số cái gọi là builtin function. Đó là những hàm căn bản mà developer có thể sử dụng. Nó thông thường được chứa trong những library đi kèm. Builtin function sẽ được nói kỹ ở phần sau.Theo như điều kiện ở trên Compiler chỉ là 1 chương trình. Vì thế nó có thể được tạo ra từ bất cứ 1 compiler nào khác.Who say a C compiler cant be compiled by a C dot Net compiler ? Cũng từ đó suy ra chẳng có ngôn ngữ nào được gọi là cấp cao hay cấp thấp. Cái cấp cao hay cấp thấp ở đây là sự tùy biến cho người developer.Ở những compiler sử dụng những ngôn ngữ được gọi là cấp cao. Các builtin-function sẽ được cung cấp nhiều hơn. Tuy nhiên nó sẽ ràng buộc người developer nhiều hơn. Ví dụ như trong Java bạn sẽ không được đụng vào việc memory allocation hay deallocation.Ở những cái tạm gọi là "cấp thấp", sẽ có ít builtin-function hơn.Tuy nhiên nó tạo cơ hội cho developer được xen vào hệ thống nhiều hơn. ví dụ với C compiler bạn có thể tùy biến cấp phát vùng nhớ ở vị trí bạn muốn. Một compiler ít builtin-function hơn sẽ giúp việc chuyển từ source code người sử dụng sang mã máy ngắn gọn hơn vì đơn giản bạn biết đích xác bạn muốn làm gì. Trong khi builtin function nó phải dùng cho vô số những tình huống khác nhau và vì thế nó sẽ sinh ra mã máy dài hơn.Hiện nay với tốc độ lên đến vài tỷ phép tính một giây của 1 con chip xử lý trung tâm ( bao gồm cả các con embedded Micro CPU) , việc viết thừa ra vài trăm triệu dòng xử lý không còn quan trọng và tác động lắm đến tốc độ của hệ thống. Có chăng chỉ đối với những embedded developer viết codecs hay những chương trình đòi hỏi gần như sức mạnh của toàn bộ hệ thống.Vì thế các bạn hãy quên đi và đừng tranh cãi ngôn ngữ nào hay hơn, ngôn ngữ nào mạnh hơn. Không phải vô cớ khi thế giới có quá nhiều ngôn ngữ quá nhiều compiler hiện nay. Mỗi thứ có mặt mạnh và mặt yếu riêng của nó. Và tùy vào môi trường, tùy vào công việc tùy vào tốc độ xử lý của hệ thống, tùy vào bộ nhớ bạn đang có, tùy vào việc bảo hành hệ thống mà người designer sẽ chọn những compiler nào để làm việc.Thật có mà điên khi viết web bằng C để viết CGI ( mặc dù vẫn còn nhiều server làm thế) thay vì viết bằng php, C#.Hay có bạn nào biết rằng 1 chương trình text parser viết bằng Python chỉ tốn 4 đến 5 dòng cho 1 cái chương trình vài chục dòng nếu viết bằng C. Và bạn sẽ té xỉu nếu khi có 1 con ROM để chứa code có size 4KB và dùng C++ compiler để viết 1 Hello world đã hơn 10KB.Ông bà ta có câu : Người nào việc đó. Tôi áp dụng vô câu "Ngôn ngữ nào, compiler nào việc đó :)" Ý quên dài dòng quá mà hổng nói ý chính.Đa số compiler hiện nay được viết trên C hoặc C++. Lý do : đã nói ở trên : C và C++ tùy biến nhất, có khả năng port qua các hệ thống khác dễ dàng nhất vì không phụ thuộc nhiều vào hệ thống ( như ASM) nhưng vẫn không mất đi khả năng uyển chuyển trong việc quản lý bộ nhớ, xử lý text. Còn nếu thích bạn vẫn có thể dùng C# hay pascal để viết 1 compiler Simple C. Ở đây đâu phải là vấn đề CON GÀ đẻ quả trứng đâu.
TK:http://www.ddth.com/archive/index.php?t-14169.html
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)